Kết quả Ứng dụng Công nghệ tiên tiến, hiện đại trong quản lý, điều tra, giám sát tài nguyên rừng tại Khu BTTN Pù Huống

Thứ năm - 25/12/2025 03:33
Một trong những thách thức lớn đối với công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại Khu BTTN Pù Huống hiện nay là áp lực ngày càng gia tăng từ các hoạt động dân sinh vùng đệm, đặc biệt là khai thác lâm sản ngoài gỗ và săn bắt trái phép. Các tác động này không chỉ làm suy giảm quần thể loài mà còn gây biến đổi sinh cảnh, buộc nhiều loài thú quý hiếm, nhạy cảm phải điều chỉnh tập tính sinh thái, chuyển sang hoạt động về đêm hoặc ẩn náu sâu trong những khu vực địa hình hiểm trở, gây khó khăn lớn cho các phương pháp điều tra thực địa truyền thống.
Trong bối cảnh đó, việc ứng dụng công nghệ bẫy ảnh trở thành giải pháp hiệu quả và phù hợp cho công tác giám sát đa dạng sinh học hiện đại. Đây là phương pháp không xâm lấn, cho phép theo dõi liên tục trong thời gian dài tại các khu vực khó tiếp cận, đồng thời cung cấp bằng chứng khoa học trực quan, phục vụ phân tích tập tính hoạt động, ước tính mật độ quần thể và đánh giá mức độ chiếm cứ của các loài đích. Bẫy ảnh cũng góp phần ghi nhận các tác động xâm hại rừng, hỗ trợ cơ quan quản lý nhận diện và đánh giá chính xác các mối đe dọa đối với tài nguyên rừng.
Thực tế cho thấy, đến nay Khu BTTN Pù Huống vẫn chưa có chương trình giám sát dài hạn, hệ thống về khu hệ thú bằng việc ứng dụng công nghệ cao. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, việc triển khai nhiệm vụ “Ứng dụng Công nghệ tiên tiến, hiện đại trong quản lý, điều tra, giám sát tài nguyên rừng” là hết sức cần thiết và cấp bách. Nhiệm vụ không chỉ góp phần xây dựng cơ sở dữ liệu số hóa phục vụ quản lý rừng bền vững, mà còn tạo nền tảng khoa học quan trọng cho việc đề xuất các giải pháp bảo tồn hiệu quả đối với các loài thú nguy cấp, quý, hiếm, góp phần bảo vệ giá trị đa dạng sinh học và di sản thiên nhiên của tỉnh Nghệ An và khu vực Trường Sơn Bắc.

I. Thông tin chung nhiệm vụ
1. Tên nhiệm vụ: “Ứng dụng Công nghệ tiên tiến, hiện đại trong quản lý, điều tra, giám sát tài nguyên rừng” cho Ban quản lý Khu BTTN Pù Huống.
2. Đơn vị thực hiện: Ban quản lý Khu BTTN Pù Huống.
3. Đơn vị tư vấn: Công ty TNHH thương mại và dịch vụ khoa học công nghệ Hải Anh.
4. Quy mô, phạm vi thực hiện:
Nhiệm vụ được triển khai trong 45 ngày khảo sát thực địa liên tục, với việc lắp đặt và vận hành 120 máy bẫy ảnh tại 120 điểm điều tra trên địa bàn 06 xã: Nga My, Hùng Chân, Mường Ham, Mường Chọng, Bình Chuẩn và Mường Quàng. Các điểm bẫy ảnh được bố trí theo ô lưới 2 km × 2 km, phân bố đều và bao phủ các sinh cảnh chính của khu vực nghiên cứu, bảo đảm tính đại diện không gian và độ tin cậy của dữ liệu. Phạm vi triển khai tập trung tại các khu vực trọng điểm có mức độ đa dạng sinh học cao, phục vụ thu thập dữ liệu đầu vào cho các phân tích định lượng và đánh giá hiện trạng đa dạng sinh học.
II. Kết quả thực hiện nhiệm vụ
1. Điều tra phỏng vấn người dân tại các vùng đệm của Khu BTTN Pù Huống
- Kết quả phỏng vấn thông tin về các loài thú được thể hiện ở bảng:
STT Địa điểm các xã Tổng số phiếu phỏng vấn Cấp độ đánh giá
Hiếm % Trung bình % Nhiều %
1 Nga My 50 15 30 25 50 10 20
2 Hùng Chân 50 20 40 24 48 6 12
3 Mường Ham 50 30 60 15 30 5 10
4 Mường Chọng 50 28 56 20 40 2 4
5 Bình Chuẩn 50 25 50 22 44 3 6
6 Mường Quàng 50 40 80 7 14 3 6
                   
- Kết quả phỏng vấn 300 người dân tại các vùng đệm của Khu BTTN Pù Huống cho thấy sự phân bố và mức độ gặp các loài thú trong tự nhiên có sự khác biệt rõ rệt giữa các địa phương, thể hiện rõ nhất thông qua tỷ lệ loài được đánh giá là hiếm.
- Xã Mường Quàng có tỷ lệ loài hiếm cao nhất (80%) tiếp theo là xã Mường Ham (60%) và xã Mường Chọng (56%). Tỷ lệ loài hiếm cao tại các xã này phản ánh thực trạng các loài thú ngày càng ít được bắt gặp trong tự nhiên. Kết quả này cho thấy các khu vực trên đang chịu áp lực lớn từ hoạt động của con người như khai thác tài nguyên rừng, săn bắt và suy giảm sinh cảnh, làm thu hẹp phạm vi phân bố và gia tăng tính ẩn dật của các loài thú.
- Ngược lại, tại các xã Nga My, Hùng Chân và Bình Chuẩn, tỷ lệ bắt gặp các loài hiếm thấp hơn (30-50%), cho thấy các loài thú tại đây vẫn được người dân ghi nhận tương đối thường xuyên so với các xã còn lại. Đồng thời, sự chiếm ưu thế của các loài ở mức độ gặp trung bình và nhiều phản ánh rằng sinh cảnh tại các khu vực này còn tương đối ổn định, mức độ tác động của con người thấp hơn, qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc duy trì và phục hồi quần thể các loài thú.
- Xã Nga My và Hùng Chân có chất lượng sinh cảnh, mức độ tác động của con người ít hơn nên, tỷ lệ loài "trung bình" và "nhiều" cao hơn các khu vực khác.
2. Tập huấn nâng cao năng lực và ứng dụng công nghệ hiện đại
- Tập huấn cho 60 cán bộ kiểm lâm và lực lượng bảo vệ rừng đã hoàn thành khóa tập huấn, 100% cán bộ tham gia xuất sắc các nội dung đào tạo từ lý thuyết đến thực hành. Đặc biệt, có đến 98% học viên đạt mức "Thành thạo" trong việc vận hành độc lập các thiết bị đo đạc công nghệ cao và cài đặt các phần mềm giám sát phức tạp.
- Chuyển đổi từ giám sát thủ công sang quản trị dựa trên dữ liệu số thông qua ứng dụng AI (nhận diện loài tự động), CameraBase (quản lý cơ sở dữ liệu) và GIS (bản đồ hóa phân bố loài). Toàn bộ các tuyến tuần tra mẫu sau đó đã được số hóa thành công lên bản đồ quản lý chung, tạo thành một hệ sinh thái dữ liệu số liên thông giữa các trạm kiểm lâm và phòng khoa học.
3. Lập danh lục các loài thú được ghi nhận bằng máy bẫy ảnh tại Khu BTTN Pù Huống
- Tổng số ảnh thực địa tại 120 điểm nghiên cứu độc lập đã thu thập được tổng cộng 21.479 hình ảnh thô, ghi nhận đa dạng các đối tượng bao gồm các loài thú, chim, cũng như dấu vết và tác động của con người đến sinh cảnh rừng.
- Dữ liệu ảnh bẫy thu thập được gán nhãn bằng công cụ trí tuệ nhân tạo/học máy (AI/ML) tích hợp trong nền tảng CameraBase, cho phép tự động phát hiện đối tượng và đề xuất loài hoặc nhóm loài kèm theo mức độ tin cậy. Kết qua dữ liệu được xuất từ CameraBase đã xác định và được phân chia thành 36 nhóm đối tượng khác nhau.
- Từ nguồn dữ liệu hình ảnh thu thập được, các bức ảnh hợp lệ được sàng lọc, phân tích và định danh loài theo tiêu chuẩn khoa học, làm cơ sở cho việc lập danh lục các loài thú ghi nhận được bằng máy bẫy ảnh. Kết quả ghi nhận 37 loài thú, phân bố trong 7 bộ (Orders) và 15 họ (Families), phản ánh mức độ đa dạng tương đối cao của khu hệ thú tại Khu BTTN Pù Huống. Trong đó Bộ ăn thịt (Carnivora) là nhóm chiếm ưu thế, với 17/36 loài (chiếm 47.2%), tiếp theo là Bộ gặm nhấm Rodentia (7/36 loài, chiếm 19.4%), Bộ Linh trưởng Primates (5/36 loài, chiếm 13.8%), và Bộ móng guốc Artiodactyla (4/36 loài, chiếm 11.1%). Các bộ còn lại gồm: Scandentia, Proboscidea và Pholidota, mỗi bộ chỉ có một loài (chiếm 2.8%).
- Phát hiện nhiều loài quý hiếm có tên trong Danh lục đỏ IUCN (2025) và Sách Đỏ Việt Nam (2024) như: Tê tê vàng (CR - Cực kỳ nguy cấp), Voi châu Á (EN - Nguy cấp), Voọc xám, Cầy vằn bắc, Gấu ngựa (VU - Sẽ nguy cấp) và Khỉ mặt đỏ.
`- Mật độ loài tập trung cao tại các khu vực có nguồn nước ổn định, thảm thực vật dày và địa hình phức tạp. Ngược lại, các vùng rìa gần khu dân cư có mật độ thấp do áp lực săn bắt và khai thác trái phép.
4. Xây dựng bản đồ phân bố các loài thú
- Sự phân bố khu hệ thú không đồng đều tập trung thành các cụm lớn, phản ánh sự tương quan chặt chẽ giữa sự hiện diện của các loài thú với địa hình và điều kiện sinh cảnh khác nhau.
- Sự phân bố không đồng đều của các loài thú, tập trung nhiều ở vùng lõi và giảm dần về vùng đệm, phản ánh ảnh hưởng tiêu cực từ hoạt động của con người như săn bắn trái phép, khai thác lâm sản và phát triển nông nghiệp.
5. Đánh giá mối đe dọa và lập bản đồ áp lực đối với khu hệ thú tại Khu BTTN Pù Huống
- Hoạt động đặt bẫy săn bắt động vật hoang dã là mối đe dọa nghiêm trọng nhất đối với khu hệ thú tại Khu BTTN Pù Huống, với tổng điểm 11/12, cao nhất trong số các mối đe dọa được ghi nhận. Hoạt động này có phạm vi ảnh hưởng rộng, không chỉ tồn tại ở vùng đệm mà còn xâm nhập vào vùng lõi, tập trung dọc các đường mòn sinh học, khe suối, điểm nước và tuyến di chuyển truyền thống của thú móng guốc và thú ăn thịt.
- Về cường độ tác động, bẫy săn bắt mang tính không chọn lọc, gây ảnh hưởng trực tiếp và hủy diệt đến nhiều loài thú lớn và trung bình, đặc biệt đe dọa nghiêm trọng các loài EN và CR có mật độ thấp và khả năng phục hồi hạn chế. Hoạt động đặt bẫy diễn ra quanh năm, gia tăng vào mùa khô và dịp giáp Tết, làm suy giảm nhanh quần thể thú và phá vỡ cấu trúc quần xã. Phân tích chồng lớp bản đồ loài và bản đồ tác động cho thấy các khu vực có mật độ bẫy cao trùng khớp với các “vùng trống ghi nhận” trên bản đồ bẫy ảnh, khẳng định đặt bẫy là nguyên nhân chính gây phân mảnh sinh cảnh chức năng và là thách thức bảo tồn lớn nhất đối với khu hệ thú tại Khu BTTN Pù Huống hiện nay.
6. Đề xuất một số giải pháp quản lý nhằm bảo tồn và phát triển quần thể thú tại Khu BTTN Pù Huống
a) Giải pháp bảo tồn loài và sinh cảnh:
- Ưu tiên bảo tồn các loài nguy cấp, quý hiếm và loài chỉ thị sinh thái (CR, EN, VU), đặc biệt là thú ăn thịt cỡ trung, thú móng guốc và linh trưởng.
- Khoanh định và quản lý chặt chẽ các sinh cảnh trọng điểm, hành lang di chuyển, khu vực sinh sản - kiếm ăn của loài; thiết lập các vùng lõi bảo vệ loài hạn chế tối đa xâm nhập trong các giai đoạn nhạy cảm.
- Kiểm soát và phục hồi sinh cảnh bị suy thoái do khai thác LSNG thông qua phục hồi tự nhiên có hỗ trợ, trồng bổ sung cây bản địa cung cấp thức ăn và nơi cư trú cho động vật hoang dã.
- Tăng cường tính kết nối sinh cảnh, đặc biệt tại các khu vực phân mảnh, vùng giáp ranh và vùng đệm, nhằm duy trì chức năng sinh thái và ổn định quần xã thú trong dài hạn.
b) Giải pháp quản lý và thực thi pháp luật:

- Tăng cường tuần tra, kiểm soát có trọng điểm, dựa trên dữ liệu bẫy ảnh, bản đồ tác động và điểm nóng vi phạm.
- Tổ chức tháo gỡ bẫy định kỳ, kiểm soát nghiêm việc mua bán, tàng trữ và sử dụng công cụ săn bắt trong cộng đồng vùng đệm.
- Thực hiện xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật về săn bắt, nuôi nhốt, buôn bán động vật hoang dã.
- Củng cố cơ chế phối hợp liên ngành giữa Ban quản lý KBT, Kiểm lâm, chính quyền địa phương, Công an và các cơ quan chuyên môn trong quản lý và bảo vệ động vật hoang dã.
c) Giải pháp cộng đồng và Sinh kế:
- Đẩy mạnh truyền thông - nâng cao nhận thức cộng đồng về giá trị đa dạng sinh học, vai trò của thú rừng và hậu quả lâu dài của săn bắt, khai thác quá mức.
- Phát triển sinh kế thay thế bền vững cho người dân vùng đệm như: trồng dược liệu dưới tán rừng, nông - lâm kết hợp, trồng cây bản địa, sản xuất nông nghiệp hữu cơ.
- Khuyến khích và hỗ trợ du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng quy mô nhỏ, có kiểm soát, gắn với bảo tồn thiên nhiên và văn hóa bản địa.
- Duy trì và củng cố các tổ, đội nhận khoán bảo vệ rừng, gắn trách nhiệm bảo vệ rừng với lợi ích kinh tế và cơ chế chia sẻ công bằng.
d) Giải pháp khoa học công nghệ:
- Duy trì và mở rộng hệ thống giám sát dài hạn bằng bẫy ảnh, tuyến điều tra cố định theo chuẩn IUCN; sử dụng dữ liệu để đánh giá xu thế quần thể và hiệu quả quản lý.
- Ứng dụng công nghệ số và GIS (SMART, CameraBase, GPS, flycam, bản đồ số) trong quản lý tuần tra, giám sát vi phạm và phân tích sinh cảnh.
- Xây dựng cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học thống nhất, có khả năng cập nhật, liên thông và phục vụ báo cáo cấp tỉnh, quốc gia và quốc tế.
- Đầu tư có trọng tâm cho giai đoạn 2026-2035 về hạ tầng, thiết bị và kinh phí nhằm nâng cao hiệu quả bảo tồn dựa trên bằng chứng khoa học.
e) Giải pháp về đào tạo và nâng cao năng lực:
- Tổ chức tập huấn định kỳ cho Kiểm lâm, lực lượng bảo vệ rừng, cán bộ xã và tổ tuần tra cộng đồng về bảo tồn loài, thực thi pháp luật và kỹ năng tuần tra.
- Đào tạo chuyên sâu về sử dụng thiết bị và công nghệ (GPS, bẫy ảnh, GIS, flycam, phần mềm quản lý dữ liệu) phục vụ điều tra - giám sát.
- Bồi dưỡng kỹ năng truyền thông, làm việc với cộng đồng.
f) Giải pháp khác:
- Tăng cường đồng quản lý tài nguyên rừng, xây dựng các quy ước, cam kết bảo vệ rừng giữa Ban quản lý - Kiểm lâm - cộng đồng.
- Lồng ghép bảo tồn đa dạng sinh học vào quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội địa phương, đặc biệt tại vùng đệm.
- Tăng cường hợp tác với các viện nghiên cứu, trường đại học, tổ chức bảo tồn trong và ngoài nước nhằm nâng cao chất lượng khoa học và tiếp cận nguồn lực.
 
Một số hình ảnh tập huấn, đặt bẫy ảnh và kết quả từ bẫy ảnh 
 
 
Một số hình ảnh đặt bẫy ảnh ngoài thực địa
 
Tập huấn sử dụng máy bẫy ảnh
 
Chồn vàng
 
Nhím
Hoẵng
Cầy Giông
Lợn rừng
 
Gà lôi trắng
 
Don

                    Người tổng hợp: Trần Đức Long - Phòng KHKT & HTQT

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Thống kê
  • Đang truy cập51
  • Hôm nay683
  • Tháng hiện tại6,501
  • Tổng lượt truy cập6,568,578
Liên kết website
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây