Kết quả giám sát đa dạng sinh học tại Khu BTTN Pù Huống

Thứ năm - 25/12/2025 03:45
Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Nghệ An vừa ban hành Quyết định phê duyệt kết quả thực hiện nhiệm vụ “Theo dõi, giám sát đa dạng sinh học của các hệ sinh thái rừng: Điều tra, giám sát một số loài thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống”. Đây là cơ sở khoa học quan trọng phục vụ công tác bảo tồn đa dạng sinh học và quản lý bền vững hệ sinh thái rừng đặc dụng tại Khu BTTN Pù Huống.
Nhiệm vụ do BQL Khu BTTN Pù Huống chủ trì thực hiện, với sự tham gia tư vấn Công ty Cổ phần tư vấn và phát triển lâm nghiệp Nghệ An, tập trung điều tra, giám sát loài Lan hài xanh (Paphiopedilum malipoense) – một loài thực vật đặc hữu, nguy cấp, quý, hiếm có giá trị cao về bảo tồn và cảnh quan. Lan hài xanh hiện được xếp hạng Nguy cấp (EN) trong Sách Đỏ Việt Nam và Danh lục đỏ IUCN, đồng thời thuộc Phụ lục I Công ước CITES, là đối tượng cần được bảo vệ nghiêm ngặt.
Kết quả giám sát đạt được:
Kết quả giám sát đạt được:
1. Xác định danh lục của các loài thực vật trong hệ sinh thái rừng có quần thể Lan hài xanh (Paphiopedilum malipoense) và phân bố loài trong hệ sinh thái
- Lan hài xanh (Paphiopedilum malipoense) là loài lan địa sinh quý hiếm thuộc họ Lan (Orchidaceae), có giá trị cao về bảo tồn và cảnh quan. Loài có phạm vi phân bố hẹp, chủ yếu gắn với sinh cảnh núi đá vôi ở miền Bắc Việt
Nam, và hiện được xếp vào nhóm Nguy cấp (EN) trong Sách Đỏ Việt Nam (2024) và Danh lục đỏ IUCN (2024), đồng thời thuộc Danh mục CITES và được quản lý theo Thông tư số 27/2025/TT-BNNMT ngày 24/6/2025 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
- Trong tổng số 10 tuyến điều tra trải rộng trên các sinh cảnh rừng thuộc Khu BTTN Pù Huống (4 xã mới) với chiều dài khảo sát 115,55 km, Lan hài xanh chỉ được ghi nhận tại hai tuyến, gồm tuyến Nga My - Bình Chuẩn (Thung Pha Cầu) và tuyến thuộc xã Bình Chuẩn (Thung Phà Cụt). Quá trình giám sát đã thu thập đầy đủ các thông tin về loài, bao gồm tọa độ điểm ghi nhận, độ cao phân bố, chiều cao cá thể và các đặc điểm sinh thái liên quan. Đồng thời, đã xác định và xây dựng danh lục thực vật tham gia cấu thành quần thể Lan hài xanh trên hai tuyến điều tra, với tổng số 479 loài.
- Kết quả giám sát và lập ô tiêu chuẩn cho thấy Lan hài xanh tại khu vực nghiên cứu có phạm vi phân bố rất hẹp, chỉ tập trung tại hai đỉnh núi đá là Thung Pha Cầu và Phà Cụt thuộc xã Bình Chuẩn; các tuyến điều tra còn lại chưa ghi nhận sự hiện diện của loài. Điều này phản ánh rõ đặc điểm phân bố hạn chế, rải rác, sinh cảnh bị chia cắt mạnh và quần thể có số lượng cá thể rất thấp tại Khu BTTN Pù Huống.
Đặc điểm nhận dạng: Cây thảo lâu năm, có 4 - 6 lá, xếp thành 2 dãy; thân rễ mập, đường kính đến 2 - 3,5 mm, khá dài. Lá hình thuôn hay bầu dục hẹp, cỡ 10 - 16 x 2,5 - 5 cm, dài, ở mặt trên có những khoang màu lục nhạt - lục thẫm xen kẽ nhau, mặt dưới có nhiều chấm màu nâu - tía. Cụm hoa có cuống mảnh và dài đến 30 - 50 cm, có lông, thường mang 1 hoa ở đỉnh. Hoa có mùi thơm dịu, thường màu lục nhạt với mạng gân mảnh hay chấm thưa màu hạt lựu - tía, rộng đến 8 - 12 cm. Lá đài ở gần trục hoa từ hình trứng rộng đến bầu dục, cỡ 4 - 7 x1,8 - 4,5 cm; lá đài kia từ hình trứng rộng đến trứng - mũi mác, cỡ 3,8 - 5,3 x 2,4 - 4,8 cm; cánh hoa hình trứng, cỡ 4 - 7 x 3,4 - 5 cm, có lông màu trắng; môi là túi gần hình cầu, to, cỡ 4,5 - 6,5 x 3,8 - 5,4 cm, mép cuốn vào trong; nhị lép lồi, hình trứng thuôn - rộng, cỡ 13 - 14 x 11 - 13 mm.
Sinh học và sinh thái: Mùa hoa tháng 3 - 4. Tái sinh bằng thân rễ và hạt. Mọc rất rải rác dưới tán rừng nguyên sinh rậm thường xanh nhiệt đới mưa mùa cây lá rộng và hỗn giao cây lá rộng - cây lá kim trên núi đá vôi, ở độ cao 650 - 1200 m, trong các khe nứt hay hốc đất ẩm, ít đất ở các vách trên sườn và gần đỉnh núi.
Phân bố trong nước: Sơn La (Mộc Châu), Hà Giang (Quản Bạ: Cán Tỷ), Cao Bằng (Trà Lĩnh: Quốc Toản), Tuyên Quang (Na Hang), Bắc Kạn (Ba Bể), Lạng Sơn (Hữu Lũng: Hữu Liên), Hòa Bình (Mai Châu: Pà Cò và Hang Kia), Thanh Hóa (Bá Thước), Nghệ An (Khu BTTN Pù Huống) và Quảng Bình (Minh Hóa: Thượng Tiến), Kon Tum.
- Đã lập bản đồ phân bố của Lan hài xanh ở Khu BTTN Pù Huống.
Cấu trúc hệ sinh thái rừng có phân bố của Lan hài xanh
Lan hài xanh phân bố trong các hệ sinh thái rừng thuộc hai kiểu rừng chính: rừng kín hỗn giao cây lá rộng - lá kim, ẩm, á nhiệt đới núi thấp và rừng kín thường xanh mưa nhiệt đới trên núi đá vôi. Các kiểu rừng này phân bố theo dải liên tục trên địa bàn hai xã Bình Chuẩn và Nga My. Sinh cảnh nơi Lan hài xanh xuất hiện đặc trưng bởi thảm thực vật có cấu trúc tương đối đơn giản, chủ yếu gồm các cây gỗ nhỏ phân bố trên các đỉnh núi đá vôi, với cấu trúc thảm thực vật điển hình gồm ba tầng: tầng cây gỗ, tầng cây bụi và tầng cỏ - dương xỉ.
2. Đánh giá đặc tính sinh học và sinh thái của các loài thực vật trong hệ sinh thái rừng có quần thể Lan hài xanh

- Xác định tổ thành: Các quần thể Lan hài xanh (Paphiopedilum malipoense) chủ yếu phân bố trong các khu rừng thường xanh trên núi đá vôi, có cấu trúc tầng rõ rệt và đa dạng thành phần loài. Cấu trúc rừng này không chỉ đóng vai trò duy trì vi khí hậu mát ẩm mà còn cung cấp điều kiện sống tối ưu cho Lan hài xanh. Tầng vượt tán (> 12 m): Tầng vượt tán tại các điểm điều tra được cấu thành từ các loài cây gỗ lớn, chủ yếu là cây lá kim (Bách xanh, Thông tre, Dẻ tùng sọc trắng) và cây họ Dẻ (Lithocarpus spp, Castanopsis spp), cây họ Long não (Cinnamomum spp). Những loài này phân bố rải rác nhưng với tán lá rộng, giúp tạo bóng râm, giảm ánh sáng trực tiếp xuống các tầng dưới và hạn chế sự thoát hơi nước. Sự hiện diện của các cây gỗ lớn cũng góp phần duy trì cấu trúc ổn định của rừng và ngăn chặn xói mòn đất.
- Đặc tính sinh thái: Lan hài trong các khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa núi cao, với nhiệt độtrung bình năm dao động 16,5 - 230C, độ ẩm không khí tương đối cao (80 - 90%) và lượng mưa hàng năm từ 1.400 - 2.400 mm. Loài phát triển tốt dưới tán rừng thường xanh trên núi đá vôi, đặc biệt là ở những nơi có tầng mùn dày, độ che phủ tán cây đạt trên 70% và điều kiện đất ẩm thích hợp. Như vậy, Lan hài xanh chủ yếu phân bố trong các khu rừng thường xanh trên núi đá, nơi có độ che phủ tán rừng từ 50 - 70%, lớp thảm mục dày 5 - 15 cm và giá thể giàu mùn, rêu. Những yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành vi khí hậu mát ẩm - điều kiện sinh thái then chốt cho sự tồn tại và phát triển của Lan hài xanh. Lớp thảm mục dày (≥ 15 cm) đóng vai trò như lớp đệm giữ ẩm và cung cấp chất dinh dưỡng cho bộ rễ và hệ nấm cộng sinh (Mycorrhiza), hỗ trợ sự nảy mầm của hạt và sinh trưởng cây con. Giá thể đá vôi phủ rêu và mùn giúp giữ nước trong các hốc đá, đặc biệt quan trọng trong mùa khô kéo dài. Sự phá hủy tán rừng, xói mòn lớp mùn và khai thác đá đã làm suy giảm khả năng duy trì vi sinh cảnh đặc trưng này, dẫn đến sự phân mảnh và suy thoái quần thể Lan hài xanh ngoài tự nhiên. Do đó, việc bảo vệ nguyên vẹn tán rừng và phục hồi thảm mục là giải pháp bảo tồn in-situ cần ưu tiên để duy trì điều kiện sống thích hợp cho loài.
3. Các tác động đến hệ sinh thái rừng và quần thể Lan hài xanh
3.1. Các tác động do con người
- Khai thác quá mức và buôn bán trái phép
- Mất môi trường sống: Các hoạt động phát triển kinh tế như xây dựng cơ sở hạ tầng (đường sá, thủy điện), mở rộng diện tích canh tác nông nghiệp, nương rẫy đã làm thu hẹp và chia cắt môi trường sống tự nhiên của lan hài…
3.2. Tác động tự nhiên
Các tác động từ tự nhiên làm suy giảm các cá thể của các loài thực vật trong hệ sinh thái quần thể Lan hài xanh tại Khu BTTN Pù Huống được ghi nhận là quá trình sạt lở đất làm xói mòn sinh cảnh sống hiện và bị thu hẹp.
4. Đề xuất các giải pháp quản lý bảo tồn hệ sinh thái rừng gắn với quần thể Lan hài xanh
- Lan hài xanh hiện được xếp hạng Nguy cấp (EN) cả ở Việt Nam và trên toàn cầu. Trong Sách Đỏ Việt Nam (2024), loài này được phân loại EN A2d; do quần thể đã suy giảm > 50% trong 20 năm gần đây bởi khai thác quá mức, mất sinh cảnh, sạt lở và cháy rừng. Dự báo trong 10 - 25 năm tới, quần thể tiếp tục giảm mạnh nếu các mối đe dọa không được kiểm soát.Trên phạm vi quốc tế, P. malipoense cũng được IUCN (2024) xếp hạng EN (A2acd; B2ab (i-v); C1+2a (i)), với vùng phân bố (EOO) ước tính khoảng 145.000 km² nhưng khu cư trú thực tế (AOO) chỉ còn ~60km², quần thể phân mảnh nghiêm trọng và số lượng cá thể trưởng thành suy giảm >80% trong 3 thế hệ gần đây. Tổng số cá thể trưởng thành tại Khu BTTN Pù Huống còn khoảng 3.000 - 4.000 cá thể, phân bố rải rác ở đỉnh của Thung Pha Cầu và đỉnh Phà Cụt từ độ cao 700-1.090 m. Ở độ cao thấp hơn dưới 750 m thì số lượng cá thể bắt gặp rất ít trên các tuyến điều tra.
- Lan hài xanh thuộc Phụ lục I Công ước CITES, cấm mọi hình thức khai thác và buôn bán quốc tế nếu không có giấy phép đặc biệt.
- Bảo tồn tại chỗ (In-situ conservation). Xác định và khoanh vùng các khu phân bố đã phát hiện sự có mặt các quần thể Lan hài xanh (Paphiopedilum malipoense) ưu tiên giám sát và bảo tồn.
- Bảo tồn chuyển chỗ (Ex-situ conservation) tiến hành thu thập có chọn lọc một số cá thể từ tự nhiên để xây dựng vườn bảo tồn và ngân hàng gen tại Vườn thực vật của Ban quản lý và các cơ sở nghiên cứu khoa học.
- Quản lý và chính sách hỗ trợ ban hành và thực thi nghiêm các quy định cấm khai thác và thương mại Lan hài xanh (Paphiopedilum malipoense) hoang dã, tăng cường thực thi Công ước CITES và phối hợp với cơ quan chức năng để ngăn chặn buôn bán trái phép. Tăng cường giáo dục cộng đồng về giá trị sinh thái và di sản của Lan hài, khuyến khích người dân tham gia bảo tồn thông qua các mô hình sinh kế bền vững như du lịch sinh thái và trồng lan hợp pháp.
 
Bản đồ phân bố Lan hài xanh tại khu vực nghiên cứu
 
 

                                                                 Người tổng hợp: Trần Đức Long - Phòng KHKT & HTQT

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Thống kê
  • Đang truy cập8
  • Hôm nay683
  • Tháng hiện tại6,456
  • Tổng lượt truy cập6,568,533
Liên kết website
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây